Chiều 19/5, UBND TP. Buôn Ma Thuột tổ chức họp Ban chỉ đạo Chương trình 6a-CT/TU, ngày 1-6-2016 của Thành ủy Buôn Ma Thuột về áp dụng tiến bộ khoa học kỹ thuật, nâng cao hiệu quả và giá trị gia tăng một số sản phẩm nông nghiệp chủ lực của thành phố giai đoạn 2016 – 2020. Ông Đoàn Ngọc Thượng, Phó Chủ tịch UBND TP. Buôn Ma Thuột chủ trì hội nghị.

Toàn cảnh hội nghị
Trong giai đoạn 2016 - 2020, việc triển khai Chương trình 6a của Thành ủy đã mang lại nhiều kết quả tích cực. Cụ thể, đối với cây cà phê đạt trên 11.452 ha, sản lượng đạt trên 29.000 tấn, tăng 4,12% về diện tích và 6% về sản lượng so với chỉ tiêu đề ra. Trong đó, diện tích cà phê được cấp Giấy chứng nhận theo tiêu chuẩn 4C, UTZ trên 3.255 ha, sản lượng 9.614 tấn, tăng 13,1% so với chỉ tiêu đề ra; tổng diện tích cà phê trồng xen các loại cây có giá trị kinh tế hơn 7.685 ha, chiếm 67,1% tổng diện tích; 87,37% hộ nông dân sản xuất cà phê tiếp cận, ứng dụng các tiến bộ khoa học vào sản xuất; thực hiện tái canh, cải tạo cà phê trên 2.757 ha, tăng 41,42% so với chỉ tiêu. Trên cây rau, đạt trên 1.722 ha, tăng 27,59%; sản lượng đạt 38.166 tấn, tăng 9% so với chỉ tiêu. Trong đó, có hơn 1.587 ha được áp dụng khoa học kỹ thuật vào sản xuất, với khoảng 34.715 tấn, chiếm 98,84% tổng sản lượng rau của thànhh phố. Đối với chăn nuôi heo, tổng đàn hiện có 147.207 con, tăng 33,82% so với chỉ tiêu; 98% đàn heo được thực hiện quy trình chăn nuôi an toàn, trong đó chăn nuôi an toàn sinh học chiếm 68,2%. Với đàn gà, tăng 46,7% so với chỉ tiêu (1.906.994 con); 97,36% đàn gà được chăn nuôi theo hướng an toàn, trong đó chăn nuôi an toàn sinh học chiếm 53,5%.

Đại diện Hợp tác xã Nông nghiệp dịch vụ Công bằng Ea Tu phát biểu ý kiến tại cuộc họp
Đặc biệt, việc liên kết tiêu thụ các sản phẩm nông nghiệp chủ lực của thành phố cũng đã được thực hiện tốt. Hiện đã có trên 3.255 ha cà phê của nông hộ liên kết chuỗi sản xuất với các công ty, sản lượng đạt 9.614 tấn; 72/103 trang trại heo, 30/110 trang trại gà liên kết với các công ty theo hình thức gia công…

Ký biên bản ghi nhớ hợp tác về việc tiêu thụ sản phẩm an toàn giữa Điểm kết nối và tiêu thụ sản phẩm an toàn của thành phố với các cơ sở sản xuất


